|
Dẫu biết “vật đổi sao dời” đã trở thành quy luật,
Nghĩa Đồng hôm nay đã qua bao cuộc biến đổi thăng
trầm, đình Sen khi xưa, nơi được xem là điểm “tụ hội
văn khí” của làng, nay chỉ còn là ngôi nhà gỗ nguyên
vẹn bao bọc bởi những bức tường vôi. Chiều thu, một
tiếng chuông nhà thờ vọng lại, tôi bâng khuâng tự
hỏi, đã mấy chục năm qua, ai người biết được dưới
mái Đình Sen đã diễn ra bao lễ hội tưng bừng…
Nghĩa Đồng không chỉ nằm trên quốc lộ 15A,
những năm tháng phà Sen níu đôi bờ sông Con gần lại.
Thả tầm nhìn xanh mướt bãi ngô, xóm làng quây quần
ven những quả đồi bát úp…dù rằng ngần ấy cũng đủ
hãnh diện đối với bất cứ một làng quê bề dày lịch sử
và rất đỗi yên bình nào. Dọc theo tả ngạn sông Con
phía trên và dưới Bàu Cóp là nơi quần tụ làng xã khi
xưa, lâu nay chúng ta vẫn thường cày xới lên biết
bao tầng văn hoá. Ngày nay, chỗ cao đã trở thành đất
trồng khoai và lạc đậu, chỗ đất trũng đã san ủi biến
thành đất thâm canh năm hai vụ lúa vàng. Đứng ở đây,
có thể thấy Nghĩa Đồng hút sâu vào tầm mắt và cũng
có thể thấy rõ như được chạm vào lịch sử một vùng
đất, bởi nơi ta đứng có tự ngàn xưa thời ông cha ta
khai sơn, lập địa, bởi những mảnh sành và bát đĩa
vụn màu da lươn còn sót lại đó đây. Một làng Sen đất
học, làng Sẻ với 16 dòng họ làm nên một giọng nói
riêng và lắm người tài, dáng đứng Vực Lồ uy nghi
thoảng chút khói hương u tịch của hồn Song Đồng Ngọc
Nữ gợi ta nhớ một mái đình xưa của vùng đất địa linh,
bản sắc tạo nên từ đời sống tinh thần.
Còn đây một chút thảo thơm là ngôi đình
Sen được xây dựng vào năm Bính Dần, niên hiệu Bảo
Đại thứ hai (1926). Ông Lý Huy (Nguyễn Thế Huy) là
Lý trưởng Tri Lễ lúc đó đốc xuất việc thi công. Phó
Chuân và Phó Thuận trực tiếp đốc làm, tất cả đồ gỗ
do dân làng Sen tự khai thác từ rừng. Tả cảnh lao
động ngày đó, không biết từ đâu đã truyền tụng câu
thơ: “ Gỗ chia năm giáp kéo về, Đông Yên hai chợ
khen chê ai tài”. Và kể cả gạch xây, ngói lợp đều do
người làng Sen tự nung lấy. Nhưng việc trực tiếp xây
dựng thì người làng Sen phải thuê hai tổ thợ dưới
xuôi là thợ Tư Phủ và thợ Lý Trai. Hai tổ thợ này
đều là những nghệ nhân kiến trúc và điêu khắc tài
hoa, đã tạo dáng hình : “đầu đao nóc mái” cong vút
và những hoa văn chạm trổ hết sức tinh tế và đẹp mắt.
Nên mới có câu : “Thợ Tư Phủ tài rồng long mã - Thợ
Lý Trai tài hoá phượng bay - Thượng Cung Dục, hạ tam
oai – Long, ly, quy, phụng chạm ngoài tứ linh”. Ngôi
đình Sen ngày đó đã được đánh giá là một công trình
lớn nhất so với tất cả các ngôi đình ven sông Hiếu (miền
Tây xứ Nghệ). Song, không chỉ là một sự kiến tạo
thuần tuý. Những chiếc cột to bằng cột ở điện Thái
Hoà (cung điện của Nguyễn Huế) không phải là thể
hiện sự oai nghiêm của một triều đại mà là thể hiện
sự vững chãi. Có thể lý giải được điều này bởi người
xưa thích “ăn chắc mặc bền” cũng là đặc điểm truyền
thống ở xứ Nghệ bão mưa khắc nghiệt. Hơn nữa làng
Sen khi đó vốn rất gần rừng nguyên sinh lắm gỗ.
Nhưng cũng có thể hiểu rằng đấy là ý chí nguyện vọng
của một làng đông dân, muốn to, cao cho xứng tầm
vươn và ý tưởng của họ. Trong tiềm thức, tôi cứ thầm
tin một chí khí làng Sen như thế. Bỏ bao sức người,
sức của với quan niệm “đã làm, làm cho tốt” (Vè làng
Sen ta khi đó). Trên những đường kèo, văng là những
hoa văn được chạm, trổ tinh xảo đầy đủ tứ linh:
Long, ly, quy, phượng…Biểu tượng con rồng rõ là rồng
thời Nguyễn dẫu có chút thô hơn. Song tất cả thể
hiện một thế giới phong phú của đời sống tinh thần
tín ngưỡng phương Đông huyền bí…
Nhiều lứa trẻ cứ ngỡ rằng Đình Sen chỉ
ngần ấy! Nhầm! Đình làng ở khắp Việt Nam trước hết
là nơi thờ tự thần linh và sinh hoạt việc làng.
Trong đó chủ yếu là nơi hội làng với bao sinh hoạt
lễ hội văn hoá. Cụ Nguyễn Trọng Tuyên, người cao
niên ở làng còn nhớ nhiều về đình Sen. Cụ như một
pho tư liệu sống quý giá sót lại làm nhân chứng.
Theo cụ: “Đình ngày trước vốn đầy đủ đồ tế khí”. Đó
là hương án cổ được sơn son thiếp vàng, có kiệu song
loan, có lọng cổ, cờ đại tướng, bát bảo, ngũ sự bằng
đồng, lư hương, mâm rượu bằng đồng, có siêu đao, phủ
Việt, một cái trống to, một chiêng đồng và hai con
hạc đồng cổ đứng trên lưng hai con rùa. Tất cả là sự
gửi gắm một cõi tâm linh thấm sâu người Việt. Riêng
ở làng Sen, đó là đồ thờ tự, hành lễ cũng như bao
làng xã miền xuôi đầy đủ nhất. Cũng như nhiều vùng
nông thôn khác ở xứ Nghệ, lễ hội đình Sen nhằm mồng
bảy tết là khai hạ. Cứ ba năm một lần là lễ Kỳ Phúc
vào rằm tháng 2 âm lịch. Lễ đại rước lớn từ đền
chính vào đình Sen (theo cụ Nguyễn Trọng Tuyên thì
làng Sen không rước tổ Triệu Cơ). Khi rước thần,
đi theo các trục
đường chính. Có kiệu, tán lọng, cờ quạt, gươm giáo
rất uy nghi, dân làng hai bên đường thắp hương, đốt
pháo cầu an với hi vọng làm ăn phát đạt. Khi về đến
đình, hạ kiệu xuống đưa các hòm sắc của các vị thần
đặt vào hương án để dân làng làm lễ trong ba ngày.
Làng bán các chức tước, hương hiệu để lấy tiền tổ
chức mổ 2 nghé đòng, giết 3 trâu đực. Dân làng đóng
mỗi nhà mỗi cỗ xôi… Trong ba ngày ấy, dân làng tổ
chức trò chơi như cờ thẻ, cờ người, tổ tôm điếm… và
ca hát tuồng chèo. Hình ảnh anh hề thắt khăn đỏ, bị
điều khiển chạy đi chạy lại là ấn tượng tiếng cười
xua đi bao tháng ngày vất vả cực nhọc của con người
thưở đó. Và hơn thế nữa, đây còn là dịp trai gái gặp
nhau tỏ bày kết nối, tính cộng đồng ngày thêm gắn bó,
tinh thần học tập lao động của nhân dân được động
viên khuyến khích. Người cao tuổi bao giờ cũng được
trân trọng, cả vị trí lẫn phần xôi thịt cũng xếp
theo vị thứ, điều này nhắc nhở con cháu học hành,
noi theo…
Ngày lễ tan rồi, ngôi đình trở lại tư thế
yên tĩnh. Ngày ấy quanh đình còn vẻ thâm u, tĩnh
mịch, trong khu vườn đình là những cây cổ thụ tạo vẻ
cổ kính linh thiêng của đình. Trước cổng là hai cột
nanh cao 5 mét, trên cùng đắp hai con hổ ngoảnh mặt
lại với nhau. Hai bên cổng đắp hai vị tướng cầm kiếm
đứng gác, 2 cánh gà hai bên còn có hai con hổ chầu.
Trên sân đình hai bên có hai cờ đại, cao khoảng 8m.
Ngôi đình gồm 5 gian, trên đỉnh nóc đắp nổi hình
lưỡng long chầu nguyệt rất đăng đối nghiêm minh,
thượng hạ nhất quán, chất liệu chủ yếu là vôi vữa,
rồi ghép mảnh sành sứ. Bốn đầu đao cong vút là 4 con
nghê chầu. Đình lợp bằng ngói vảy âm dương, toàn
ngôi đình có chiều cao từ đỉnh xuống là 6,1m, chiều
dài 19,4m; rộng 9,8m, toàn bằng gỗ lim, 24 cột (cột
lớn cao 5,2m, chu vi 1,3m, cột quân cao 3,95m chu vi
1,1m, có tảng kê…). Đình Sen trước Cách mạng tháng
Tám không những là nơi diễn ra hội làng mà còn là
nơi nhen nhóm các hoạt động cách mạng. Một hộp quả
cất giấu tài liệu, một tráp sơn dùng đựng con dấu và
một số bát đĩa, mâm đồng dung nuôi dưỡng cán bộ Đảng
hội họp ăn nghỉ ở Nghĩa Đồng… là những hiện vật liên
quan tới phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1931.
Tất cả những nét đẹp của lễ hội làng Sen
sau Cách mạng 1945 đều không có điều kiện tồn tại
nữa. Đặc biệt trong cuộc cải cách của ta năm 1954 –
1955, do chính sách “quá tả” phổ biến ở Nghệ Tĩnh
đối với đình, đền, chùa mà đồ tế khí ở đình Sen cũng
mất dần với sự vô tâm của ta trong một giai đoạn
lịch sử. Những năm bom Mỹ đánh phá ác liệt ở phà Sen,
người làng Sen có thể đem cả trống ra chẻ làm củi
nấu cơm nuôi bộ đội. Và cũng có thể đem cả đồ bát
bảo, cờ đại tướng và ôm cả hương án ra lát đường cho
xe chạy: “Tất cả để đánh thắng giặc Mỹ. Tôi cứ nghĩ,
chẳng những giặc Mỹ cắt nửa vòng trái đất, mà bất cứ
tên giặc hung bạo nào đụng tới người Việt cũng nhận
được thất bại ê chề không tránh khỏi. Bởi chắc chắn,
không có một dân tộc nào dám đem cả bảo vật của làng
làm kháng chiến mà làng Sen là một thí dụ…”
Đã có thời kỳ đình Sen được dùng làm cửa
hàng mua bán. Năm 1947, đình Sen được chuyển từ vị
trí cũ (sau một trận sụt lở, một vày đình treo lủng
lẳng ở bờ sông) đến vị trí mới là Bàu Cóp và trùng
tu. Đợt trùng tu này, sau khi hoàn thành ông Trịnh
Hữu Hiến đã viết cặp câu đối treo cột nanh trước
đình: “Tích lại Đông lân Bính Dần niên tạo tác/Kim
cư Bắc địa Đinh Hợi thế trùng tu”. Và cho mãi năm
1976 dời dân lên đồi, đình Sen vẫn nằm giữa cánh
đồng trơ trọi. Song số phận ngôi đình vẫn còn “son”
bởi giá trị sử dụng của nó, năm 1979 Đình Sen trở
thành trụ sở làm việc của Đảng uỷ, UBND xã Nghĩa
Đồng và ổn định cho đến ngày nay. Một khi cuộc sống
được nâng lên, thời đại thông tin bùng nổ, nhân dân
Nghĩa Đồng bỗng nghĩ tới việc “làm thế nào để trả
lại cho đình Sen giá trị vốn có của nó…”. Được các
cấp, các nghành quan tâm, đặc biệt là Phòng Văn hoá
huyện và Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, đình Sen đang
sắp sửa được trả về cho lịch sử. Sẽ có hồn thu thảo,
sẽ có bóng tịch dương nếu ta đi lau lớp bụi thời
gian ngót phần hai thế kỷ.
Tôi vẫn gặp cụ Tuyên và nhiều người cao
niên khác thỉnh thoảng chống gậy ra đình. Trên những
nếp nhăn và ánh mắt các cụ, tôi cũng thầm hiểu được.
Chắc mong muốn nhất của các cụ là níu giữ một nét
xưa văn hoá làng xã nguyên vẹn để mai sau cho con
cháu. Còn tôi thì ước mơ rằng, một mai du khách về
thăm Nghĩa Đồng. Cô hướng dẫn viên Nhà văn hoá
truyền thống có thể dẫn khách đi giữa cánh đồng,
nhìn về con sông xanh mát của mình và nói: “Kia là
thế núi Vực Lồ bao bão mưa không đổi khác, dưới bến
đò kia ngày trước là lặng lẽ, khốc liệt phà Sen, kia
là ngôi trường cấp II từng một thời nổi tiếng trong
cả nước…Còn chỗ có màu ngói sạm nâu kia, chính là
Đình Sen, nơi quy tụ văn khí, bề dày của bản sắc
làng quê em đó.” |