|
Ngày 5-8-1964 giặc
Mỹ đem bom ra đánh phá miền Bắc, thành phố Vinh kiên
cường đã giáng trả sự tấn công của không lực Hoa Kỳ
ngay từ loạt đạn đầu…
Thầy Cương – cô Trân
thông báo với học trò lớp tôi: Cả nước cùng trận
tuyến đánh Mỹ. Tụi chúng tôi há mồm ra mà nghe bao
nhiêu chuyện về máy bay Mỹ - Nó to như cái nhàm có
bom có đạn, sức huỷ diệt tàn bạo…Thằng Tôn bảo đừng
sợ mày ạ, tao muốn trông thấy nó tận mắt xem nó hư
thực ra sao. Non gan nhất là tụi cái Toàn, cái Thân
sợ mặt xanh hơn tàu chuối…
Cứ mỗi tối, trong
từng thôn từ ông già bà lão đến lớp trai làng cứ bàn
tán xung quanh chuyện tàu bay và cách đánh. Tụi nhỏ
mình nghe mắt tròn xoe.
Ngày 12-9-1964 toàn
trường cấp I Nghĩa Đồng chúng tôi được lệnh học vào
ban đêm từ 6 giờ đến 9 giờ tối. Tuổi lớp 3, mỗi đứa
1 đèn “phòng không” bao gồm các bộ phận: ống tre có
khe hở nhỏ vừa đủ cho ánh sáng đèn dầu hoả soi vào
trang vở. Phía trên có quai xách hẳn hoi, kèm theo
tán đĩa cá mèn để che ánh sáng. Cánh con trai đêm
học, ngày rủ nhau tô trau truất đèn “phòng không”
đánh Mỹ. Lớp đàn anh còn vẽ hoa hoè rực rỡ trông
thật vui mắt…
Ngày 20-10-1965 lớp
4A chúng tôi được chuyển lên học ở Cồn Eo Đế. Thầy
Nguyễn Trọng Nghiệm căn dặn chu đáo và cách đi đường,
cách ẩn nấp, cấp cứu... Lớp học được dựng sâu dưới
lòng đồi, xung quanh có hệ thống rào chữ chi như đồi
Him Lam. Vui nhộn nhất là cảnh thầy trò tập cách
cáng thương binh – băng bó vết thương. Thầy bảo:
Phải học giỏi mới thành kỹ sư – bác sỹ và mới đi bộ
đội được. Chao ôi, hình ảnh anh bộ đội Cụ Hồ trong
chúng tôi sao mà thiêng liêng và than thương vậy…
Ngày 10-9-1967 tụi
tôi lên cấp 2 lúc đó trường đóng ở Hồng Yên một bộ
phận ở Cồn Chợ. Lớp học được đắp thành luỹ xung
quanh như là lô cốt vậy. Có cả hệ thống hầm Triều
Tiên nữa. Thầy Xứng, cô Dung hướng dẫn chúng tôi làm
vòng lá nguỵ trang và bện mũ rơm để tránh mưỡng bom
đạn. Thật là tuyệt vời trong tư thế người lính trong
Tố Hữu:
…Chào các em đồng
chí của tương lai
Mang mũ rơm đi
học đường dài
Chuyện thần kỳ
dân tộc ta là vậy
Tụi cu Thế, cu Ngọ,
Bình, Sỹ bện trau truốt những mũ rơm mịn đẹp vô cùng.
Vòm lá nguỵ trang bằng lá dừa, cọ xanh rì. Nó còn
sắm thêm chiếc súng lục gỗ bôi lọ nồi đen sì trông
thật oai vệ.
Hàng ngày máy bay
oanh tạc các trọng điểm phà Sen - tuyến 15A, B. Bao
đêm pháo sáng rực trời. Đội phòng không 12 ly 7 của
xã đánh trả quyết liệt, tiếc là nhiều lần bắn gần
trúng máy bay Mỹ chắc phi công nó hốt hoảng lắm…
Ngày 1-6-1972 mới
học xong lớp 10, tụi tôi tham gia vào trung đội trực
chiến dân quân. Bác Đôn – Trung đội trưởng phát cho
mỗi đứa 1 khẩu K44 bóng loáng nặng chịch. Cứ mỗi tối
thay ca trực các trọng điểm trên tuyến đường 15B, và
trực kẻng ban báo động từ xa đặt ở đồi Eo Đế. Chửa
tận mắt với Mỹ, nhưng cũng thấy thật là dũng mạnh,
chắc khắp các vùng trên toàn nước đều hoà với chúng
tôi hào khí bi hùng ấy.
Ngày 25-6-1972 Trung
đội dân quân Thượng Thắng chúng tôi nhận lệnh cử 3
đồng chí có uy tín, đầy dũng cảm làm nhiệm vụ đặc
biệt ở phà Sen.
Tôi cùng với Đức
Kiên do bác Hoe Nho làm tổ trưởng cầm súng thần tốc
xuống địa điểm quy định chờ khẩu lệnh cả ngày: bằng
mọi cách vớt được xác 1 chiến sỹ bộ đội trên đường
làm nhiệm vụ bị tử vong trôi dạt về vùng ta. Trên
bãi rì rì ven phà Sen chúng tôi dò tìm và hoàn thành
nhiệm vụ. Kể ra cũng sờ sợ vì nhiều lẽ... Xong việc
được xã đội biểu dương công trạng, nhưng mãi sau 1
tuần cả 3 chúng tôi mới trở về trạng thái, tâm thế
ban đầu của người lính tại hậu phương Nghĩa Đồng...
Gian khổ là vậy – hy sinh là vậy nhưng trong mỗi con
người Nghĩa Đồng luôn tự tin và đầy ắp tình làng
nghĩa xóm. Có sức cảm hoá sâu sắc người đi xa góp
phần xây dựng quê mình giàu đẹp
|