|
Trước sự phát triển “thần kỳ” của nền kinh tế Nhật
Bản, sự ồ ạt tràn ngập hàng Nhật khắp thế giới, các
nước phương tây bỗng dưng bừng tỉnh, lo lắng. Người
ta tự hỏi: Người Nhật đã dùng mô hình quản lý nào mà
hiệu qủa ghê gớm như thế?
Giáo sư William Ouichi thuộc trường Đại học
Califonia, LosAngeles (Mỹ) đã nghiên cứu nhiều năm
cách hoạt động của các công ty Nhật Bản để cố gắng
tìm ra cái “thuyết” mà người Nhật đã theo để làm ăn
phát đạt, thuyết ấy chưa biết đặt tên là gì, nên ông
gọi là “thuyết Z” - một ẩn số vẫn còn đang thách
thức óc nghiên cứu của các nhà kinh tế Tây Phương –
và đó cũng là tên cuốn sách bán chạy nhất nhiều năm
liền ở Mỹ. Cuốn sách cũng đã được dịch ra nhiều thứ
tiếng, trong đó có tiếng Pháp, Nga, Việt…
Giáo sư William Ouichi viết “Kết thúc cuộc viếng
thăm của mình ở mỗi xí nghiệp Nhật Bản, tôi đều tìm
gặp một hay nhiều tổng giám đốc, và hỏi: “Xin ông
cho tôi biết ông tổng giám đốc nào có nhiều uy tín
hơn cả?… Câu trả lời cuối cùng bao giờ cũng làm tôi
ngạc nhiên: “Thông thường vị giám đốc lâu năm nhất
và được kính trọng nhất thì phụ trách nhân sự”.
Nhật Bản coi trọng con người và những phẩm chất Nhật
Bản của họ. Theo Ouichi những phẩm chất đó là: Lòng
tin, sự hy sinh, sự thẳng thắn, lòng trung thực, sự
tế nhị, tinh thần trung thành, có một đạo lý lao
động, coi xí nghiệp là đại gia đình mà mình làm việc
ở đó suốt đời, hợp tác hết mình, sống thành tổng thể
hài hoà, không chống đối cấp trên, điềm tĩnh, làm
chủ được bản thân, ham học hỏi,…
Tôi chú ý đến câu này của giáo sư “Lối sống hết sức
đặc thù đó phản ánh một quốc gia thuần nhất về chủng
tộc, lịch sử, tôn giáo và văn hoá”.
Chúng ta tự hỏi: Tôn giáo nào và văn hoá nào đã hun
đúc cho người nhật những phẩm chất tốt đẹp như thế?
Giáo sư Ouichi không trả lời câu hỏi này, chúng ta
buộc lòng phải tìm giải đáp nơi những tư liệu khác
(…).
Năm
1192, thủ lãnh của một bộ tộc Minamoto thiết lập
tướng phủ (Shogunat) và đóng đô ở Kamakura (Kiềm
thương). Người ta gọi đây là thời đại Kamakura (1192
– 1333). Vào thời đại này, tầng lớp Samurai (chiến
sỹ) thừa nhận võ sĩ đạo (Bushido) là nền tảng của xã
hội. Các Samurai được chia nhiều ruộng đất và hưởng
nhiều đặc quyền, đặc lợi về tinh thần cũng như vật
chất, đây là tầng lớp thật sự đặc trị đất nước.
Về
sau Shogun (Tướng quân) Ielsuma (1641 – 1680) ra sắc
lệnh thu hồi ruộng đất của họ và các quân nhân
Samurai được chuyển qua chế độ ăn lương. Giới quân
nhân Ronin là Samurai không có tôn chủ - người ta
thường gọi là hiệp sỹ lang thang đã phải rong ruổi
đó đây trong nước thi thố võ đạo của mình. Chính
giới Ronin này đã hình thành bộ luật đạo đức
“Bushido” (Võ sĩ đạo). Dần dần, võ sĩ đạo trở thành
lý tưởng đạo đức bất thành văn đối với giới này.
QUA CÁC TÁC PHẨM
HIỆN ĐẠI
Hai
nhà biên khảo Liên Xô V.Aphonikov và I.D.Ladanov
trong cuốn “Japoncy” (Người Nhật” đã viết: Việc thủ
tiêu hình thức tầng lớp Samurai khi Shogunat
Tokugawa (Đức Xuyên” bị sụp đổ năm 1867 hoàn toàn
không dẫn đến việc loại bỏ những chuẩn tắc đạo đức
võ sĩ đạo trong tâm trí người Nhật, trung thành vô
hạn với tôn chủ, sẵn sàng đi theo chủ mình kể cả
xuống mồ, tục mổ bụng tự sát (Hara kin) tất cả chẳng
phải biến mất hoàn toàn. Tinh thần võ sĩ đạo người
Nhật thuộc tất cả các tầng lớp xã hội rất sẵn sàng
lãnh hội và trau dồi, bởi vì nó toát ra tinh thần
đích thực của mình, tinh thần “Nhật”.
Dưới
đây, tôi tiếp tục ghi nhận những ý kiến của hai nhà
biên khảo trên và những đức tính của người nhật.
Ở
Nhật phổ biến câu thành ngữ: “Samurai lạnh lùng như
thanh kiếm của chàng, mặc dù chàng không quên ngọn
lửa đã rèn nên thanh kiếm đó”. Ý nghĩa: Tính tự chủ
và đức tính điềm tĩnh là phẩm chất mà từ thời xưa
người Nhật đã coi là biểu hiện đầu tiên của cái dũng.
Những đặc điểm của tính cách dân tộc ấy phần lớn
được hình thành dưới đặc điểm của đạo phật. Một tôn
giáo thường xuyên giáo hoá sự nhẫn nại, kiềm chế
điềm tĩnh và đạo khổng (Nho giáo) thường xuyên giáo
huấn hiếu, nghĩa, trí, trung, tín, nghĩa, nhân.
Võ sĩ đạo chi phối người Nhật trong cách thức rèn
luyện ý chí, tính cách và ấn định các chuẩn tắc
hành vi đặc trưng của họ. Ngay khi còn học vỡ lòng
người Nhật đã từng được nhà trường trau dồi cho
những đức tính của người Samurai là lòng trung thành,
tình cảm và bổn phận về nghĩa vụ, cách cư xử lịch sự,
lòng can đảm và đức khiêm nhường.
Các phim ảnh và các chương trình truyền hình được
chiếu rộng rãi trong các giờ học luận lý phần nhiều
đều được ngấm ngầm vun đắp cho tinh thần võ sĩ đạo.
Tinh thần đó hiện vẫn được người Nhật cố tìm mọi
cách để bảo tồn. Trong các chuẩn tắc đủ loại, vẫn
đóng vai trò điều tiết hành vi xã hội, như chuẩn tắc
pháp lý, như đạo đức, hôn nhân… Võ sĩ đạo trong
trường hợp này đã giữ vai trò cái xương sống định
hướng cho hành vi, cho phép ứng xử.
Người Nhật ngay từ ngàn xưa vốn đã ham hiểu biết.
Cho nên hiếu học là một trong những nét đặc thù của
tính cách đân tộc Nhật. Đức hiếu học đó thể hiện rõ
nét nhất ở tầng lớp Samurai , Một tầng lớp mà ngay
từ thời Minh Trị Thiên Hoàng chưa khởi xướng công
cuộc duy tân đã từng trau dồi không chỉ có võ nghệ,
mà cả chính trị. Do đó, ngay từ thời ấy ở Nhật đã tổ
chức nhiều trường sở chuyên dùng để dạy dỗ con em
tầng lớp Samurai. Những cơ sở thường chỉ dạy những
gì mà đẳng cấp quân nhân thấy cần. Cái được chú
trọng thường xuyên hơn cả là hình thành cho trẻ các
phép tắc xử thế của giới Samurai và các giá trị đạo
đức chính yếu, cũng như các tín điều tôn giáo chính
thống. Nhưng điều được coi trọng hơn cả là những nền
tảng của binh pháp, là tài thao lược. Giới thời
phong kiến, ở Nhật cũng có trường tự viên (Teracoi)
chuyên dạy cho trẻ học đọc, học viết và đạo làm
người.
Võ sĩ đạo cũng đóng vai trò hệ trọng không kém trong
việc xác lập phong cách học tập của người Nhật.
Trong cuốn “Harakure” có câu: “Phàm đã làm người,
người phải khổ luyện không ngừng. Thường thường hễ
đã tự cảm thấy mình đạt tới mức hoàn hảo tột cùng
thì lập tức người sẽ bị bỏ bê ngay việc khổ luyện
những cái mà lâu nay người vẫn khổ luyện. Ấy thế
nhưng để đạt đến mức cao thủ, người ta bao giờ cũng
phải nhớ rằng minh đang còn cách xa mức ấy rất nhiều.
Chỉ những ai không bằng lòng với những gì mình đã
khổ công tu luyện được và luôn khát khao vươn lên
đến những đỉnh mới cao hơn, kẻ đó mới được hậu thế
coi là bậc cao thủ”.
Quan niệm còn sống còn học là quan niệm đã hình
thành chính trên những nền tảng những giáo lý kiểu
đó, ở các võ đường, các nhà văn hoá, các công ty, xí
nghiệp đâu trên đất nước Nhật người ta đều nhìn thấy
khẩu hiệu “Rửa cho hết nỗi nhục đói nghèo và ngu dốt”.
Tính hiếu học của người Nhật vốn có khuynh hướng
thực tiễn rõ rệt, có thể nói là thực dụng. Khi người
kỹ sư Nhật cầm trong tay một sản phẩm mà ông ta chưa
hề biết, ông ta cố “nắm bắt” sản phẩm ấy trong sự
thống nhất giữa hình thức và nội dung. Tính hiếu học
của người Nhật được quyết định bởi tính cụ thể trong
cách tư duy chủ yếu do đạo phật luyện nên.
Nhật Bản vốn là xứ sở đã sản sinh ra nhiều nghệ nhân
mà trình độ nghề nghiệp đã đạt đến mức điêu luyện,
nên bản thân quá rình học nghề lắm khi rất giống
những buổi ngồi thiền để lắng tâm và thư giãn: Học
sinh được giáo viên luyện cho thói quen chủ động thư
giãn đầu óc và cơ bắp, tránh sự căng thẳng, hấp tấp
và không sợ phạm lỗi trong khi thao tác. Các hướng
dẫn viên, bản thân vốn đều là những người thợ hết
sức thành thạo, nên bao giờ họ cũng giúp học trò
hiểu rõ một chân lý khá đơn giản: Càng cố tránh sơ
suất bao nhiêu càng dễ bị sơ suất bấy nhiêu”.
Nhà sư Kosen (Nhật) chuẩn bị viết đại tự để cho khắc
trước cổng lớn ngôi chùa Oaku tại Kyoto. Sư phải
viết chữ đó lên giấy rồi tự khắc giấy vào gỗ. Một đệ
tử ngồi hầu, mài mực và theo dõi bút thiếp của thầy.
Lần đầu tiên khi nhà sư vừa ngừng bút, người đệ tử
nói:
Bạch
thầy, chưa được!
Sư
lại sử dụng bút lại lần nữa, người đệ tử lại lên
tiếng:
Bạch
thầy, lần này còn tệ hơn lần trước.
Sư
viết lại lần nữa, lần nào cũng bị chê. Cứ như vậy
cho đến lần thứ sáu mươi tư, thì bút cùn, mực cạn.
Thấy
mực hết người đệ tử vào trong lấy thêm.
Còn
lại một mình, không bị bận tâm bởi cái nhìn xoi mói
của kẻ ngồi bên, nhà sư chấm bút vào nghiên, dùng
chút mực còn lại phóng bút một lần cuối cùng.
Người đệ tử trở lại, ngắm hàng chữ còn tươi nét mực,
reo lên:
Bạch thầy, thật là tuyệt bút!
Hai
nhà biên khảo Xô viết V.A.Pronnikov và LD Ladanov
cũng đã trích dẫn những quan điểm của các tác giả
khác như:
Nhà học giả người Mỹ gốc Nhật (Naime Nakamura) đã
chỉ ra rằng người Nhật có biệt tài lựa chọn trong
các nền văn hoá khác những gì mà họ quan tâm trong
giai đoạn phát triển cụ thể của mình. Chẳng hạn, đạo
Phật sau khi xuất hiện ở Nhật Bản vào thế kỷ thứ VI
họ đã được tiếp nhận, đúng là cái đạo phật mà nước
Nhật đang cần vào thời kỳ đó, tức là đạo Phật với
các hình thức đơn giản.
Nhà bác học người Mỹ P. Halloran nhận thấy rằng nền
văn hoá Nhật và tính cách dân tộc Nhật vốn mang tính
độc đáo rõ rệt: Trung thành với các truyền thống và
tích cực trong việc tiếp thu cái mới. Thêm vào đó,
việc tiếp thu cái mới, chẳng hạn tiếp thu các yếu tố
của nền văn hoá nước ngoài, không phải sự vay mượn
đơn giản mà là biến đổi cải biên một cách rõ rệt.
Tác giả người Nga G. Vostokov đã viết “Khi xuất hiện
những đoàn tàu chiến Âu - Mỹ vào thập niên 50 của
thế kỷ trước, người Nhật phải thừa nhận sự bất lực
của mình; Lòng tự hào dân tộc của họ bị tổn thương
sâu sắc vì họ nhận thấy ưu thế của người Châu Âu.
Nhưng họ không cam chịu. Với tính kiên nhẫn và tính
nhanh nhẹn vốn có của mình, người Nhật đã tự đặt mục
tiêu là chiếm ưu thế đó – cái ưu thế mà họ quan niệm
là sẽ dẫn đến tiến bộ về kỹ thuật quân sự. Không
phải chỉ chiếm mà còn vượt nữa. Thế rồi chỉ trong
vòng 30 năm, họ đã thực hiện ở đất nước mình một
cuộc đảo lộn mà nếu so với nó thì các cuộc cách mạng
ầm ĩ ở Châu Âu chỉ là sự dậm chân tại chỗ. Nếu ý
thức phẩm giá dân tộc đã chỉ đạo người Nhật trong
cuộc đảo lộn này thì lòng tự hào dân tộc lại lôi
cuốn họ đi xa hơn. Tin chắc rằng họ đã sánh ngang
với Châu Âu trong lĩnh vực văn hoá, người Nhật không
thoả mãn với việc nhận thức được sự bình đẳng đó và
họ bắt đầu mơ ước đến sự công nhận đặc biệt dân tộc
mình trong lịch sử nhân loại…”
Chúng ta lại trở về với hai nhà biên khảo Pronnikov
và Lananov để kết thúc bài này. Hai ông viết:
“Với nhịp độ nhanh, nước Nhật đã cải tổ công nghiệp,
cải cách cơ cấu xã hội. Tinh thần võ sĩ đạo Samurai
đã thôi thúc quần chúng nhân dân phấn đấu vì “danh
dự của dân tộc”. Chỉ trong vòng ba bốn chục năm,
nước Nhật đã tiến xa. Nếu như dân tộc này không có
những phẩm chất tâm lý thích ứng thì các quan hệ tư
sản không thể có được sự tiến bộ hết sức mạnh mẽ như
điều đó đã xẩy ra sau khi nước Nhật bước vào con
đường phát triển tư bản chủ nghĩa”.
|