|
Cổ nhân xưa có câu:
" Văn không sông núi không cao diệu
Người chẳng phong sương khó rạng tài"
Đó là tiền đề, xuất phát điểm của
hai câu phá đề và thừa đề trong bài thơ.
Thể thơ tứ tuyệt gồm 4 câu: phá đề, thừa đề,
luận đề và câu kết. Nói đến tứ tuyệt phải nói đến Đường luật
bởi luật ngâm, âm vần của thể thơ Đường cổ xưa. Luật ở đây
là luật bằng trắc, có nghĩa là thanh âm ở các vần 2, 4, 6
trong một câu phải đối nhau, và mỗi câu lại đối nhau trong
các vần ấy. Mặt khác, âm cuối của câu thừa đề và câu kết
phải dùng vần và nghĩa tương đương.
Bài thơ đề cao 4
chữ: VÕ ĐƯỜNG NGỌC HÒA
Hai câu thơ:
" Võ tinh văn thạo tất nên danh
Đường có gian nan nghiệp mới thành"
Ý muốn nói cái mà đương nhiên ai ai cũng
thấu: "Mài kim từ sắt,
dũa
ngọc từ đá".
Chẳng mấy ai sinh ra đã có thể tự dựng nghiệp lớn.
Đời xưa các bậc vua chúa, anh hùng tuấn kiệt
có mấy ai không mài dùi kinh sử, không tinh thông văn võ mà
lập được nghiệp lớn đâu. Đời nay trong mọi mặt đời thường
lại càng không có kẻ bất tài vô dụng mà lập được nghiệp lớn.
Cứ cho rằng võ thời nay đã khác xa võ thời
xưa nhưng cái cốt tinh, cái ý chí quyết tâm, cái đạo đức,
tâm huyết của mỗi võ nhân thì thời nào cũng thế. Để cho tinh
thông đạt đạo, mỗi võ sỹ phải vượt qua xiết bao gian khổ; là
mồ hôi, công sức, thời gian; có khi là cả máu và nước mắt,
cũng có khi là sự đánh đổi bằng chính cuộc đời mình.
Võ còn có nghĩa là đạo, võ đạo dạy người
quân tử biết đối nhân xử thế, biết cương nhu;
đó chính là sự kết hợp cốt cách của một văn
nhân. Xưa nay không thể nói cương với nhu cái nào là nhất,
càng không thể bóc tách chúng ra khỏi nhau,biết kết hợp cả
cương lẫn nhu. Võ tinh văn thạo cũng chính là cái cốt
cách của bậc tuấn kiệt hào hoa, phong nhã; có tài, có đức
mọi thời.
Ba tấc lưỡi một văn nhân đôi khi làm chuyển
suy một thế cục nan nguy, một thế thua trông thấy; ấy là cái
tài tinh thông kinh sử, văn pháp của một văn nhân. Cho nên
kẻ Võ tinh văn thạo tất khắc biết lập cho mình một sự
nghiệp sáng lạng. Hai câu phá đề và thừa đề ý là vậy.
Xưa nay,
dẫu làm cái nhỏ nhất đến cái lớn nhất có mấy
ai tự dưng sinh ra đã thành thần đồng, thiên tài đâu; dẫu là
văn hay võ, con người ta đều phải học tập rèn dũa. "Học
là sự nghiệp suốt đời", điều này Khổng Tử đã từng
nói, Lê Nin đã từng nói, Bác Hồ đã từng nói. Sự học gian nan
lắm, không phải ai học cũng thành tài, không phải ai học
cũng được bởi có gian nan, có đắng cay và cả thất bại thì
mới nên sự nghiệp.
Câu luận: "Ngọc mài lửa huyết nên ngọc
quý" xuất phát từ kinh điển "Vàng thử lửa, ngọc
thử huyết" và điển tích dâng ngọc xưa.
Viên ngọc ban đầu giống như hòn đá cuội
xám phủ đầy rêu mà một người nông dân trong lúc làm ruộng
đào được. Anh ta đem dâng vua để bày tỏ sự tôn kính, ai ngờ
vua cho rằng anh đã phạm tội khi quân khi dâng vua hòn đá
cuội và ra lệnh chặt chân anh ta. Người nông dân tìm đến một
vị đại thần có uy tín trong triều làm chức giám quan để kêu
oan. Sau khi xem xét thấy đúng là ngọc quý, người giám quan
đã trình tấu lên vua..Vua triệu người nông dân mang ngọc vào
triều. Những thợ kim hoàn giỏi nhất cũng được triệu đến. Họ
đã mài dũa bóc tách lớp vỏ rêu đầy bụi để lộ ra một viên
ngọc sáng rực rỡ cực quý hiếm. Cuối cùng vua ban tặng cho
người nông dân một ngàn lượng vàng và giữ lại trong triều.
Câu chuyện chỉ có vậy nhưng cái rút ra thật
lớn. Người nông dân vì yêu kính vua mà dâng ngọc; nhưng
ngọc quý khó nhìn, ngọc phải được mài dùi mới ra ngọc
quý. May thay triều thần là những người tài, biết phân biệt
rõ trắng đen mà cuối cùng anh nông dân đã được minh oan, vua
cũng nhận ra tấm lòng chân thành của người nông dân. Ấy thế
cho nên có ngọc mà biết chứng tỏ, biết mài dũa cho viên ngọc
ấy trở lên sáng rạng để mọi người đều thấy có phải giá trị
của nó đã tăng gấp bội hay sao?
Ở đời cũng vậy, ta có chí lớn, có tài cao mà
không chứng tỏ mình thì chẳng ai biết. Chỉ giỏi nói thôi mà
không làm thì chẳng được tích sự gì; có khi còn mang họa vào
thân. Để thành ngọc quý, ta đã có đủ một quãng đường gian
nan rèn luyện ý chí quyết tâm. Đem hết tâm tư, dốc sức vì
nghiệp lớn, làm cho mọi người hiểu và theo ta, đó không phải
là mài ngọc từ đá hay sao? Cho nên mượn điển tích mà nói
người, nói đời phải hiểu sâu xa mới thấy cái thâm ý của nó.
Câu kết "Hoà Nhân - Trí - Dũng rạng sử
xanh" bắt nguồn từ luận "Tam cương ngũ thường"
của Khổng Tử. Khổng Tử đặt Trung dung (tức Hoà) nên làm
trọng. Mọi việc trước là "Hoà" rồi mới lo kế khác.
Hoà để ổn định, hoà để quốc thái dân an.
Trong chiến trận, hoà làm cho hai bên không bị tổn thất
người và của. Hoà có thể làm cho yếu thành mạnh; để tìm ra
kẽ hở của địch, để củng cố chiến luỹ của ta. Hoà để đợi thời
cơ giành lấy chiến thắng toàn cục, chấm dứt chiến tranh. Chủ
tịch Hồ Chí Minh - người chiến sĩ vĩ đại của dân tộc Việt
Nam đã dùng Hoà để lần lượt đánh tan bè lũ ngoại xâm Anh,
Tưởng, Pháp, Mỹ trong suốt hơn một thể kỷ qua. Cho nên "Hoà"
làm trọng.
Hoà cũng có nghĩa là tên Thầy. Trong
Karate-do, Hoà có điểm giống trạng thái Kara, có điểm giống
"Do" nên ý nghĩa rất lớn.
Nhân - Trí - Dũng là tiên chỉ của Võ Đường
Ngọc Hoà mà bất kỳ võ sinh Karate-do nào cũng cần có; nó
cũng là các đức tính thiết yếu của mỗi một con người.
Ba âm cuối "rạng
sử xanh", ở đây ý muốn nói sự mong muốn Võ Đường Ngọc
Hoà sẽ tồn tại mãi và sẽ là gương sáng cho các thế hệ
sau noi theo. Đây là mong muốn của Thầy, ban huấn luyện và
tất cả các võ sinh tâm huyết của Võ Đường. Hy vọng Võ Đường
Ngọc Hoà sẽ mãi mãi là một võ đường có tiếng và lớn mạnh cả
về số lượng và chất lượng; đúng nghĩa Võ Đường Nhân - Trí
- Dũng.
|